LIÊN KẾT TRONG MÔ HÌNH CÔNG TY MẸ - CON
10:21 10-08-2016
LIÊN KẾT TRONG MÔ HÌNH CÔNG TY MẸ - CON
Thứ nhất, về cơ sở hình thành
Quan hệ giữa công ty mẹ và công ty con được thiết lập trên cơ sở sở nắm giữ vốn. Theo đó, công ty mẹ nắm giữ toàn bộ hoặc nắm giữ một phần vốn góp đủ để chi phối công ty con. Tùy theo pháp luật của mỗi nước và Điều lệ của từng công ty quy định mà mức chi phối được thể hiện ở tỷ lệ vốn góp. Thông thường, công ty mẹ chiếm từ 50% trở lên vốn góp của công ty con. Tuy nhiên, có trường hợp vẫn được coi là công ty mẹ mặc dù vốn góp dưới 50% tùy thuộc vào Điều lệ công ty quy định.
Thứ hai, về cách thức hình thành
Một là, hình thành một cách tự nhiên, bằng con đường dài, vững chắc như ở Mỹ hay các nước châu Âu[13]. Theo đó thì nó có thể:
Phát triển nội sinh do công ty mẹ tự phát triển lớn mạnh với việc hình thành các chi nhánh, đơn vị, công ty trực thuộc của mình; hoặc phát triển ngoại sinh thông qua việc công ty mẹ tiến hành thực hiện việc tập trung kinh tế như sáp nhập, hợp nhất, mua lại doanh nghiệp khác hoặc liên kết kinh tế (liên doanh, liên kết với doanh nghiệp khác) nhằm tích tụ vốn, nâng cao vị thế, tăng cường khả năng cạnh tranh và tạo ra nhiều lợi ích nhất[14]. Nói chung, bằng phương thức tự nhiên thì điều kiện đặt ra là chỉ cần có một công ty đủ mạnh để trở thành công ty mẹ mà không cần đến một quyết định hành chính, dựa trên ý muốn chủ quan của Nhà nước hay một yêu cầu quản lý duy ý chí[15], vì vậy tổ hợp công ty mẹ - công ty con cũng sẽ tan rã cùng với sự chấm dứt hoạt động của công ty mẹ;
Hai là, tổ hợp công ty mẹ - công ty con được hình thành khi nền kinh tế tồn tại những điều kiện và trong trạng thái nhất định mà Nhà nước cảm thấy sự ra đời hay việc đẩy mạnh phát triển tổ hợp công ty mẹ - công ty con sẽ mang đến những cơ hội, biến chuyển khả quan hay giải quyết được mặt khó khăn nào đó cho nền kinh tế. Ở đó, Nhà nước, có thể bằng quyết định hành chính, hoặc bằng sự dẫn dắt của mình với việc xây dựng khung pháp lý, các thể chế, chính sách để thúc đẩy tổ hợp công ty mẹ - công ty con phát triển nhanh, bền vững, trở thành những trụ cột trong nền kinh tế. Điển hình của phương thức hình thành này là ở các nền kinh tế châu Á như Nhật Bản, Hàn Quốc[16]…
Thứ ba, về liên kết trong tổ hợp công ty mẹ - công ty con
Liên kết trong nhóm công ty có thể là liên kết ngang, liên kết dọc hoặc liên kết hỗn hợp. Liên kết ngang là liên kết của các doanh nghiệp hoạt động trong cùng nghành nghề hay thị trường. Liên kết dọc là liên kết giữa các công ty trong đó mỗi công ty giữ một vai trò quan trọng trong dây chuyền của quá trình nghiên cứu, sản xuất mà mỗi công ty đảm nhận một hoặc một số công đoạn nhất định. Liên kết hỗn hợp, đa ngành, đa lĩnh vực, là sự liên kết giữa các công ty hoạt động trên nhiều lĩnh vực, ở nhiều thị trường khác nhau[17].
Liên kết giữa các công ty trong nhóm có thể là liên kết cứng tức là liên kết được thực hiện thông qua mối quan hệ về vốn. Bên cạnh đó còn có liên kết mềm tức là việc liên kết thông qua các hợp đồng hợp tác, liên kết về khoa học kĩ thuật, công nghệ, sản xuất kinh doanh nhằm thực hiện mục tiêu phát triển, hay mục tiêu cuối cùng là lợi nhuận. Thông thường liên kết cứng có mức độ chặt chẽ hơn liên kết mềm và chúng là liên kết có vai trò quyết định giữa các công ty trong tổ hợp. Ngoài ra, mức độ chặt chẽ của các liên kết này còn phụ thuộc vào mức độ chi phối của công ty mẹ với các công ty con hoặc phụ thuộc vào nội dung thỏa thuận giữa các công ty;
Không khó để nhận thấy, thông qua sở hữu vốn quyền chi phối của công ty mẹ với công ty con được thực hiện một cách dứt khoát và hiệu quả nhất. Do đó, liên kết trên cơ sở sở hữu vốn giữ giữa công ty mẹ - công ty con ngày càng giữ vai trò chủ đạo. Bên cạnh đó, liên kết thông qua ngành kinh tế kĩ thuật đã dần trở nên mờ nhạt trong khi liên kết hỗn hợp đa nghành, đa lĩnh vực ngày càng được ưa chuộng. Có thể thấy điều này ngay tại Việt Nam, để thử sức với các lĩnh vực đầu tư mới, để phân tán hay hạn chế rủi ro trong kinh doanh… Các công ty con được thành lập với lĩnh vực hoạt động đa dạng và rộng khắp. Thậm chí, ngay cả trong các Tập đoàn kinh tế Nhà nước, Bộ Tài chính cho biết tính đến cuối năm 2007, tổng giá trị đầu tư ra ngoài các lĩnh vực kinh doanh chính của 70 tập đoàn, tổng công ty Nhà nước là gần 117.000 tỉ đồng, trong đó đầu tư vào lĩnh vực tài chính, ngân hàng và bất động sản là hơn 23.400 tỉ đồng[18].
Thứ tư, về tư cách pháp lý của mỗi công ty trong tổ hợp
Tổ hợp công ty mẹ - công ty con không phải là một thực thể pháp lý mà là một tập hợp các công ty, trong đó có một công ty mẹ và có một hoặc một số công ty con. Mỗi công ty là một pháp nhân độc lập có tài sản riêng, có bộ máy điều hành quản lý riêng và tự chịu trách nhiệm về các khoản nợ cũng như các nghĩa vụ tài sản của mình. Tổ hợp trên không phải là một pháp nhân và nó không chịu trách nhiệm trước pháp luật hay buộc phải có nghĩa vụ với bên thứ ba với tư cách nhóm.Công ty mẹ và công ty con là hai thực thể pháp lý độc lập.
Nếu công ty con là công ty trách nhiệm hữu hạn thì công ty mẹ chỉ chịu trách nhiệm đối với phần vốn góp hay cổ phần của mình. Tuy nhiên, chúng có lợi ích liên quan nhất định với nhau và do trong mối quan hệ công ty mẹ có tính chất chi phối các quyết định của công ty con, nên luật pháp nhiều nước bắt buộc công ty mẹ phải chịu trách nhiệm liên đới về những ảnh hưởng của công ty mẹ đối với công ty con. Chẳng hạn như trường hợp phá hạn trách nhiệm, khi đại diện của công ty mẹ tại công ty con hành xử không có sự rõ ràng minh bạch giữa công việc của công ty và công việc của cá nhân; hoặc chi phối, kiểm soát, điều hành công ty vào các hoạt động bất hợp pháp gây thiệt hại cho người khác; hoặc lợi dụng hình thức chịu trách nhiệm hữu hạn của công ty để tìm cách chia nhỏ vốn nhằm mục đích lừa đảo.[19]
Thứ sáu, về quyền chi phối của công ty mẹ đối với công ty con
Công ty mẹ nắm giữ quyền chi phối, kiểm soát công ty con. Quyền kiểm soát, chi phối là quyền quyết định đối với nhân sự chủ chốt, tổ chức quản lý, thị trường và các quyết định quản lý quan trọng của công ty khác hoặc sử dụng quyền biểu quyết của mình với tư cách là một cổ đông, bên góp vốn, tác động đến việc thông qua hoặc không thông qua các quyết định quan trọng của công ty mà mình có vốn cổ phần, vốn góp chi phối.
Công ty mẹ - công ty con là hai thực thể pháp lý độc lập, có tư cách pháp nhân, song lại có mối quan hệ ràng buộc và sự liên kết chặt chẽ với nhau. Trong đó yếu tố vốn là nút liên kết cơ bản, sự vận động của các cổ phần trong vốn điều lệ dẫn tới sự vận động của quyền sở hữu và sự thay đổi mức sở hữu của công ty này đối với vốn điều lệ của công ty khác dẫn tới sự thiết lập mối quan hệ mẹ - con hoặc chấm dứt mối quan hệ đó. Điều đó có nghĩa là công ty mẹ đầu tư toàn bộ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối ở các công ty con, sự chi phối này phụ thuộc vào mức độ vốn đầu tư, thông thường công ty mẹ phải sở hữu trên 50% vốn của công ty con. Bằng việc nắm giữ và chi phối về vốn đầu tư, công ty mẹ có vị trí, vai trò quan trọng trong việc quyết định chiến lược phát triển của các công ty con thông qua việc quyết định về tổ chức, quản lý, nhân sự chủ chốt, thị trường cũng như những vấn đề quan trọng khác nhằm thực hiện mục tiêu chung của cả tập đoàn. Công ty con được công ty mẹ góp 100% vốn thì mối quan hệ với công ty mẹ sẽ hết sức chặt chẽ, thể hiện ở việc công ty mẹ có quyền quyết định hoàn toàn những vấn đề quan trọng của công ty con. Các công ty con mà công ty mẹ giữ cổ phần hoặc vốn góp chi phối sẽ có mối quan hệ ít chặt chẽ với công ty mẹ. Tuy nhiên, với tỷ lệ vốn góp giành được quyền chi phối, các công ty mẹ vẫn đủ sức kiểm soát và định hướng cho công ty con hoạt động nhằm phục vụ lợi ích, chiến lược của công ty mẹ.
Ngoài ra, giữa các công ty con lại có mối quan hệ ràng buộc với nhau, phụ thuộc vào sự điều tiết của công ty mẹ. Tuy nhiên, về mặt pháp lý, các công ty con vẫn hoàn toàn độc lập và tự chủ trong quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh của mình. Bộ máy quản lý và điều hành của loại hình này như bất cứ một công ty cổ phần hay công ty trách nhiệm hữu hạn nào.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 189 Luật Doanh nghiệp năm 2014
"a) Sở hữu trên 50% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phần phổ thông đã phát hành của công ty đó;
b) Có quyền trực tiếp hoặc gián tiếp bổ nhiệm đa số hoặc tất cả thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc của công ty đó;
c) Có quyền quyết định việc sửa đổi, bổ sung điều lệ của công ty đó.”
Từ quy định trên ta thấy, Luật Doanh nghiệp năm 2014 đã quy định cụ thể về mối quan hệ, giữa công ty mẹ - công ty con, qua đó thấy được mối liên hệ trong mô hình này ngoài về vốn còn về hoạt động, công ty mẹ nắm quyền kiểm soát và chi phối đối với công ty con. Luật doanh nghiệp năm 2014 cũng đã quy định rõ về quyền và trách nhiệm của công ty mẹ đối với công ty con tại Điều 190.
Công ty mẹ thực hiện việc định hướng, điều phối hoạt động và quyết định các vấn đề quan trọng về nhân sự và sản xuất kinh doanh của công ty con theo chiến lược chung của cả mô hình liên kết công ty mẹ - công ty con. Mô hình này không chỉ có hai tầng lớp liên kết công ty mẹ - công ty con mà có thêm các tầng liên kết giữa công ty con – công ty con của nó (còn gọi là công ty cháu nếu lấy công ty mẹ làm trung tâm), sự liên kết giữa công ty mẹ - công ty cháu và phần lớn các công ty đều mang họ mẹ.
Khi cần tư vấn hỗ trợ hãy tìm đến chúng tôi:
Công ty luật TNHH Việt Nga - VALAW
Địa chỉ : Tầng 6 Số 3 Vũ Phạm Hàm, Yên Hòa, Cầu Giấy, TP. Hà Nội
Điện thoại : 09.345.966.36
Email: CEO.valaw@gmail.com
Website: valaw.vn
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét